Thôn Đìa, tên chữ là Bồng Trì, vốn là một làng cổ lớn theo kiểu “nhất xã nhị thôn”, gồm hai xóm Đìa Trên và Đìa Dưới. Cuối thời Nguyễn, làng thuộc tổng Nhân Hữu, ngày nay là thôn Đìa thuộc xã Nhân Thắng, tỉnh Bắc Ninh. Đây là vùng đất cổ nằm ở phía Nam sông Đuống, cách sông Đuống khoảng 3km về phía Đông, đồng thời ở gần hệ thống sông Ngụ – một nhánh của sông Móng, vốn bắt nguồn từ vùng trũng huyện Thuận Thành và chảy qua nhiều làng xã phía Đông Nam của huyện Gia Bình (theo địa giới hành chính trước đây).
Điều kiện tự nhiên với hệ thống sông ngòi cổ bao bọc đã tạo thuận lợi cho cư dân nơi đây phát triển nông nghiệp, giao thương và giao lưu văn hóa. Từ xa xưa, vùng đất này đã thu hút người Việt cổ đến sinh cơ lập nghiệp, hình thành nên các làng xã trù phú, mang đậm truyền thống văn hiến. Dấu ấn của các làng Việt cổ còn lưu lại trong tên đất, tên làng, phong tục tập quán và đặc biệt là trong tín ngưỡng, lễ hội thờ các vị thần có công phù trợ Hai Bà Trưng chống giặc Đông Hán.
Trong không gian lịch sử – văn hóa ấy, làng Đìa nổi bật với hệ thống di tích cổ gồm đình, chùa, miếu và dấu tích Văn chỉ tổng Nhân Hữu. Tiêu biểu nhất là đình làng Đìa – công trình trung tâm, nơi hội tụ và phản ánh đầy đủ nhất bề dày lịch sử, văn hiến của cộng đồng cư dân địa phương.
Đình làng Đìa được khởi dựng từ lâu đời, là nơi thờ Thành hoàng làng. Theo bản thần tích chữ Hán có niên đại gốc “Hồng Phúc nguyên niên” (1572), được sao lại vào năm Vĩnh Hựu 6 (1740), đình thờ các vị “Sơn Thần” – những nhiên thần của địa phương có công phù giúp Hai Bà Trưng đánh giặc Đông Hán. Bản thần tích cũng như các tư liệu Hán Nôm khác cho biết hai vị thần có tên huý là Cấn và Liệt.
Đến thời Nguyễn, đình được trùng tu, tôn tạo và còn lưu lại dấu tích rõ nét tại hậu cung với dòng chữ Hán “Tự Đức thập nhị niên” (1859) khắc trên câu đầu, cùng các chi tiết chạm khắc như mặt Hổ phù trên vì nóc ván mê. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, thực hiện chủ trương tiêu thổ kháng chiến, ngôi đình cổ bị phá dỡ, chỉ còn lại một phần hậu cung. Năm 1992, nhân dân địa phương phục dựng lại một số gian tiền tế; đến năm 2000 tiếp tục trùng tu, tôn tạo, khôi phục lại quy mô và dáng vẻ truyền thống của ngôi đình.
Trải qua thời gian, một số hạng mục của đình tiếp tục xuống cấp. Năm 2025, được sự đồng ý của UBND tỉnh Bắc Ninh, địa phương đã triển khai trùng tu, tôn tạo di tích trên cơ sở nền đất cũ, tuân thủ nguyên tắc bảo tồn, giữ gìn kiến trúc truyền thống của đình. Nguồn kinh phí thực hiện trùng tu, tôn tạo di tích từ ngân sách tỉnh và sự đóng góp của nhân dân theo hình thức xã hội hóa.
Hiện nay, đình làng Đìa có kiến trúc kiểu chữ “Đinh”, gồm tiền tế và hậu cung, mái lợp ngói với các đầu đao cong. Bộ khung gỗ được chạm khắc tinh xảo với các đề tài “tứ linh”, “tứ quý” và hoa lá cách điệu, thể hiện nghệ thuật kiến trúc truyền thống đặc sắc.
Giá trị nổi bật của đình làng Đìa còn được thể hiện ở hệ thống tư liệu, cổ vật phong phú và có niên đại rõ ràng. Tiêu biểu có bia đá “Phả lục bi ký” niên đại Duy Tân 9 ghi chép lại thần tích của đình; bản thần phả chữ Hán niên đại Vĩnh Hựu 6 (1740); bản “Thần tích thần sắc” được Lý trưởng lập năm 1938 ghi rõ lai lịch, công trạng của Thành hoàng làng, các ngày sự lệ và thông tin về 5 đạo sắc phong qua các triều đại: Tự Đức 6, Tự Đức 33, Đồng Khánh 2, Duy Tân 3, Khải Định 9. Ngoài ra còn có hương ước do Lý trưởng lập năm 1944 cùng nhiều bia đá khác như “Hậu thần bia ký” (Tự Đức 5 – 1852), “Hậu tự bi ký” (Tự Đức 16 – 1863), “Văn chỉ tòng bi ký” thời Nguyễn – một trong những tấm bia của Văn chỉ tổng Nhân Hữu xưa.
Không chỉ là di tích kiến trúc, đình làng Đìa còn là trung tâm sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của cộng đồng. Theo tục lệ, hàng năm vào ngày mùng 10 tháng 3 âm lịch, lễ hội đình làng được tổ chức trang trọng. Từ ngày mùng 9, đình được mở cửa để bao sái đồ thờ, chuẩn bị nghi lễ. Sáng mùng 10, nhân dân hai xóm Đìa Trên và Đìa Dưới tổ chức rước bát hương từ các nghè về đình với đầy đủ cờ kiệu, bát bửu, tàn lọng, chiêng trống và các quan viên tế lễ. Sau phần lễ là phần hội với nhiều trò chơi dân gian, tạo nên không khí sinh hoạt văn hóa cộng đồng vui tươi, lành mạnh.
Bên cạnh đình, làng Đìa còn có chùa Quang Linh (Quang Linh tự) ở phía Tây thờ Phật; các miếu cổ như miếu Hiền Nhân thờ vị “Đại tướng quân”, miếu chợ Đìa thờ Thổ Thần và “Bà Chúa giếng”; cùng hai nghè ở phía Đông và phía Tây làng – nơi thờ các vị “Sơn Thần” linh ứng. Những di tích này hợp thành một quần thể văn hóa – tín ngưỡng đặc sắc, phản ánh đời sống tinh thần phong phú của cư dân địa phương qua nhiều thế hệ.
Trong lịch sử, vùng đất Bồng Trì còn nổi tiếng là đất khoa bảng với tiêu biểu là tiến sĩ Trần Danh Tân (sinh năm 1708), người đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Bính Thìn niên hiệu Vĩnh Hựu 2 (1736) đời Lê Ý Tông, từng giữ chức Thừa chính sứ. Ngoài ra, qua các văn bia như bia hậu thôn Gia Phú, bia hội tư văn thôn Phương Độ và bia văn chỉ thôn Đìa, còn ghi nhận nhiều người đỗ đạt cử nhân, tú tài, sinh đồ, tham gia bộ máy quan lại và có đóng góp cho quê hương, đất nước.
Trải qua nhiều biến cố lịch sử, các thế hệ cư dân làng Đìa vẫn luôn giữ gìn truyền thống đoàn kết, chung sức bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của quê hương. Đình làng Đìa với những giá trị tiêu biểu về lịch sử, kiến trúc, tư liệu và sinh hoạt tín ngưỡng không chỉ phản ánh bề dày văn hiến của địa phương, mà còn góp phần làm giàu thêm bản sắc văn hóa truyền thống của vùng Kinh Bắc – Bắc Ninh.
Với những giá trị đó, đình làng Đìa đã được xếp hạng là Di tích lịch sử – văn hóa theo Quyết định số 1489/QĐ-UBND, ngày 5/10/2009 của UBND tỉnh Bắc Ninh.