Những năm gần đây, thực hiện chủ trương tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, phát triển sản xuất hàng hóa tập trung và chuyển mạnh từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp, các Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp (HTX DVNN) trên địa bàn xã Nhân Thắng đã tích cực chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng phù hợp với điều kiện canh tác và nhu cầu thị trường. Trong đó, mô hình sản xuất lúa nếp PD2 gắn với bao tiêu sản phẩm của HTX DVNN thôn Bảo Ngọc đang phát huy hiệu quả rõ nét, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân và thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững tại địa phương.
Trước đây, HTX DVNN thôn Bảo Ngọc chủ yếu gieo cấy các giống lúa truyền thống như Q5, Khang Dân. Tuy nhiên, các giống lúa này đã được canh tác nhiều năm nên dần bộc lộ hạn chế như dễ nhiễm sâu bệnh, chất lượng gạo không cao, hiệu quả kinh tế thấp, đầu ra thiếu ổn định. Trước thực tế đó, HTX đã tích cực tìm hướng chuyển đổi cơ cấu giống lúa phù hợp nhằm nâng cao giá trị sản xuất và thu nhập cho người dân.
Sau khi tiếp cận các chính sách hỗ trợ phát triển giống lúa năng suất, chất lượng cao của tỉnh và địa phương, đồng thời tham quan, học tập nhiều mô hình sản xuất hiệu quả trong và ngoài tỉnh, năm 2018, HTX DVNN thôn Bảo Ngọc đã mạnh dạn đưa giống lúa nếp PD2 vào gieo cấy và thực hiện liên kết bao tiêu sản phẩm cho nông dân.
Thời điểm mới triển khai, diện tích gieo cấy lúa nếp PD2 của HTX chỉ khoảng 5ha. Tuy nhiên, sau một vài vụ sản xuất, nhờ hiệu quả kinh tế vượt trội, năng suất ổn định và đầu ra thuận lợi nên bà con nông dân tích cực hưởng ứng, chủ động mở rộng diện tích gieo cấy. Đến nay, lúa nếp PD2 đã trở thành cây trồng chủ lực của HTX, góp phần quan trọng trong nâng cao thu nhập cho người dân địa phương.
Hiện nay, tổng diện tích gieo trồng của HTX là 70,6ha, trong đó diện tích gieo cấy lúa 69,6ha, diện tích rau màu khoảng 1ha. Riêng diện tích gieo cấy lúa nếp PD2 đạt khoảng 50ha, chiếm hơn 70% tổng diện tích sản xuất lúa của HTX. Việc hình thành vùng sản xuất tập trung quy mô lớn tạo điều kiện thuận lợi cho cơ giới hóa đồng bộ, giảm chi phí sản xuất và thuận tiện trong liên kết tiêu thụ sản phẩm.
Theo đánh giá của HTX, giống lúa nếp PD2 có khả năng thích nghi tốt với điều kiện thổ nhưỡng và khí hậu địa phương, có thể gieo cấy ở cả vụ xuân và vụ mùa. Giống lúa này có nhiều ưu điểm nổi bật như cây thấp, cứng cây, khả năng chống đổ tốt, chịu thâm canh cao và cho năng suất ổn định. Hạt thóc có màu vàng sáng, gạo trắng đục tự nhiên, hạt to, tròn mẩy; khi chế biến cho chất lượng dẻo thơm đặc trưng nên được thị trường ưa chuộng. Đặc biệt, khi đồ xôi, hạt nếp nở đều, dẻo mịn, thơm nhẹ và có độ keo dính đặc trưng, tạo nên chất lượng khác biệt so với nhiều giống nếp khác trên thị trường.
Không chỉ có chất lượng tốt, lúa nếp PD2 còn mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người sản xuất. Theo ông Ngô Đình Nhân, Giám đốc HTX DVNN thôn Bảo Ngọc, giống lúa này có thị trường tiêu thụ rộng, sản phẩm được doanh nghiệp thu mua thóc tươi ngay tại ruộng nên người dân không phải phơi sấy, giảm đáng kể chi phí và công lao động. Năng suất thóc tươi đạt từ 220 - 280kg/sào, giá thu mua dao động từ 8.000 - 10.000 đồng/kg, cho thu nhập cao hơn nhiều so với các giống lúa truyền thống đang gieo cấy tại địa phương.
Từ hiệu quả thực tế, phần lớn các hộ thành viên trong HTX hiện chỉ duy trì một phần nhỏ diện tích lúa thơm phục vụ nhu cầu sinh hoạt gia đình, diện tích còn lại đều chuyển sang gieo cấy lúa nếp PD2 nhằm nâng cao giá trị kinh tế. Mỗi vụ sản xuất, HTX thực hiện bao tiêu khoảng 300 tấn thóc nếp cho bà con nông dân. Không chỉ thu mua sản phẩm của các hộ thành viên, HTX còn liên kết tiêu thụ cho một số HTX lân cận, góp phần tạo đầu ra ổn định cho nông sản trên địa bàn.
Có thể khẳng định, mô hình sản xuất lúa nếp PD2 gắn với bao tiêu sản phẩm của HTX DVNN thôn Bảo Ngọc là hướng đi phù hợp trong phát triển nông nghiệp hiện nay. Việc phát triển vùng sản xuất lúa nếp PD2 tập trung không chỉ giúp nâng cao giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích mà còn góp phần thay đổi tư duy sản xuất của người dân theo hướng liên kết, sản xuất hàng hóa gắn với nhu cầu thị trường. Đây cũng là mô hình cho thấy hiệu quả rõ nét trong thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp, từng bước xây dựng nền nông nghiệp hàng hóa bền vững, nâng cao thu nhập và đời sống cho người dân địa phương.